Khi Phù Nam Hoa bước ra khỏi gian nhà chính, hắn bắt gặp vị tỳ nữ thanh tú kia đang ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ giữa sân, tay cầm một vốc ngô vụn cho gà ăn. Một con gà mái dẫn theo đàn con lông vàng tơ mềm mại, đang cúi đầu mổ thức ăn trên mặt đất.
Nhìn thấy nàng, Phù Nam Hoa khẽ mỉm cười. Chẳng rõ là do tính cách thẹn thùng hay vốn dĩ lạnh lùng, thiếu nữ chỉ khẽ nhếch môi xem như đáp lễ.
Phù Nam Hoa đẩy cửa viện bước ra, thấy Thái Kim Giản đang đứng đợi trong ngõ nhỏ, sắc mặt nàng có phần u ám. Hắn xoay người khép cửa, qua khe cửa đang dần khép lại, hắn bắt gặp gương mặt thiếu nữ trong sân đang ngẩng lên nhìn mình.
Phù Nam Hoa chợt nhận ra, vị nha hoàn vốn dĩ phải là thiếu nữ nghèo hèn, quanh thân ám mùi bùn đất này, lại sở hữu một đôi mắt phi phàm, khiến cả người nàng toát lên vẻ thanh tân như mầm non đâm chồi giữa tiết đầu xuân. Tuy nhiên, hắn cũng không để tâm quá nhiều. Với thân phận Thiếu chủ thành Lão Long, những nữ tử tư sắc xuất chúng, vóc dáng thướt tha, phong thái lả lướt hắn đã sớm nhìn đến phát chán rồi.
Sánh bước cùng Thái Kim Giản, Phù Nam Hoa lên tiếng hỏi:
- Thế nào rồi, không được thuận lợi sao? Chuyện cơ duyên vốn dĩ thường gặp trắc trở, chẳng thể lần nào cũng vẹn cả đôi đường, nàng không cần phải nản lòng.
Thái Kim Giản vốn có dung mạo phong tình quyến rũ, lại thêm công phu tu hành giúp thoát thai hoán cốt, nếu chỉ xét về tiên tư ngọc cốt, đương nhiên nàng thanh khiết như lưu ly so với nữ tử thế tục. Phàm nhân dưới núi dù có sắc nước hương trời, trong mắt tu sĩ cũng chỉ là một túi da thối mà thôi.
Lúc này, sắc mặt tiên tử núi Vân Hà vô cùng khó coi, đủ thấy tâm trạng nàng tồi tệ đến nhường nào, bằng không đã chẳng lộ rõ ra mặt như vậy. Có lẽ trong lúc chờ đợi nơi ngõ nhỏ, nàng đã kìm nén một bụng nộ hỏa, nếu không phát tiết ra thì thật khó lòng dễ chịu:
- Đã có một vị cao nhân nhanh chân đến trước, chính là một trong những kiêu hùng của hồ Thư Giản, "Tiệt Giang Chân Quân" Lưu Chí Mậu. Chẳng có lấy một cơ hội để thương lượng, vừa gặp mặt lão đã đem Chưởng môn sư tổ núi Vân Hà ra chèn ép một vãn bối như ta. Từ đầu đến cuối ta mới chỉ nói được vài câu đã bị lão đuổi thẳng cổ khỏi nhà họ Cố.
Phù Nam Hoa lộ vẻ trầm ngâm, khẽ nhắc nhở:
- Ra khỏi ngõ Nê Bình rồi hãy nói tiếp.
Thái Kim Giản nghi hoặc hỏi:
- Nơi này chẳng phải đã cấm tiệt mọi pháp thuật rồi sao?
Phù Nam Hoa mỉm cười nói:
- Kẻ có thể đặt chân đến đây tìm kiếm cơ duyên, ai mà chẳng có dăm ba bản lĩnh hộ thân? Những hậu bối như cô và ta thì còn đỡ, theo quy củ của trấn nhỏ này, tu vi càng cao thâm thì mức độ áp chế lại càng lớn. Theo lý mà nói, cảnh giới càng gần với Thánh nhân thì lại càng yếu ớt như hài đồng, đúng không? Nhưng cô có từng nghĩ tới, nếu có cao nhân đắc đạo nào đó không tiếc hao tổn đạo hạnh để thi triển thần thông, chẳng lẽ lại không bằng đám vãn bối chúng ta sao?
Thái Kim Giản phản bác:
- Có Thánh nhân trấn giữ nơi này, Tiệt Giang Chân Quân lão nhi kia lẽ nào lại dám ngang nhiên ra tay với ta?
Phù Nam Hoa khuyên nhủ:
- Chúng ta tới đây là để tìm cầu thiện duyên chứ không phải để kết oán. Cho dù không cần lo lắng đến tính mạng, nhưng gây hiềm khích với đám tiền bối này cũng chẳng phải chuyện tốt lành gì.
Thái Kim Giản cũng không phải hạng người cố chấp, gật đầu nói:
- Phù huynh nói rất phải, quả là kiến giải thấu đáo.
Gương mặt nàng thoáng hiện vẻ u sầu, ra chiều yếu đuối đáng thương:
- Nhưng ta thật sự không cam lòng. Ta đã đưa cho huynh mười viên đá Vân Căn, nếu lần này uổng phí công sức, xôi hỏng bỏng không, trở về biết ăn nói thế nào với đám tổ sư gia?
Vừa bước ra khỏi ngõ Nê Bình, tâm thần của Phù Nam Hoa và Thái Kim Giản gần như đồng thời chấn động. Cảm giác này chắc chắn không chỉ đơn thuần là do tầm mắt đột nhiên trở nên khoáng đạt. Hai người đưa mắt nhìn nhau, rồi nhanh chóng dời đi chỗ khác.
Phù Nam Hoa vốn đang đắc ý, lúc này cũng thu liễm lại nhiều. Hắn cẩn thận rà soát lại chuyến đi vào ngõ nhỏ vừa rồi, việc kết minh với Thái Kim Giản không hề lộ ra sơ hở, giao dịch với thiếu niên Tống Tập Tân cũng chẳng có sai sót gì, vốn là một vụ mua bán sòng phẳng, đúng với quy củ. Vị Thánh nhân ngồi nhìn thế sự xoay vần ở nơi này, lẽ nào lại nhàn rỗi đến mức nhúng tay vào chuyện vặt vãnh đó? Như vậy, áp lực vô hình này từ đâu mà đến? Chẳng lẽ thật sự là vị Tiệt Giang Chân Quân mà mình chưa từng nghe danh kia sao?
So với tâm tư thâm trầm của Phù Nam Hoa, suy nghĩ của Thái Kim Giản lại đơn giản hơn nhiều. Nàng cho rằng Phù Nam Hoa nói đúng, Tiệt Giang Chân Quân quả thật đã sử dụng thần thông pháp thuật nào đó để giám sát mình. Sau một hồi kinh hãi, nàng lại cảm thấy may mắn vì bản thân chỉ thốt ra vài lời oán thán, chứ chưa đến mức giận quá mất khôn mà buông lời đe dọa.
Hai người mỗi kẻ một tâm sự rảo bước trên đường lớn, càng rời xa ngõ Nê Bình, áp lực đè nặng trong lòng dường như cũng vơi bớt đôi phần. Với Phù Nam Hoa, đó là sức nặng của cơ duyên vận mệnh; còn với Thái Kim Giản, đó lại là gánh nặng của gia tộc.
Phù Nam Hoa ngước nhìn ngôi miếu thờ xa xa, hiếu kỳ hỏi:
- Tiệt Giang Chân Quân của hồ Thư Giản? Sao ta chưa từng nghe danh? Dẫu thành Lão Long nằm ở cực nam Bảo Bình Châu, nhưng địa vị một vị Chân Quân hiển hách nhường nào, dù kiến thức của ta có nông cạn đến đâu cũng không lẽ lại chẳng hay biết.
Thái Kim Giản hạ thấp giọng, cười lạnh:
- Chân Quân cái nỗi gì, chẳng qua chỉ là một kẻ đứng đầu đám bàng môn tả đạo mà thôi. Dẫu có ra vẻ đạo mạo thì lão cũng chẳng đủ tư cách xưng tụng là Chân Quân, đó chỉ là hư danh do đám người thích nịnh hót thêu dệt nên.
- Cứ nhìn Nguyên Vũ Đế kia khôn khéo bực nào, lẽ nào lại sắc phong cho hạng người này. Chức vị Chân Quân vốn dĩ mỗi người một vị trí, hễ ban cho ai thì có khi hai trăm năm cũng chẳng thu hồi lại được. Huống hồ tổ tiên của Nguyên Vũ Đế vốn vung tay quá trán, đến đời lão ta chỉ còn lại hai danh ngạch Chân Quân, càng không thể tùy tiện ban cho một tu sĩ bàng môn mua danh chuộc tiếng.
Phù Nam Hoa bừng tỉnh đại ngộ:
- Hóa ra là vậy.
Mỗi vị Chân Quân trấn giữ vương triều đều có khả năng phò tá quân chủ thu thập, áp chế và gia tăng quốc vận.
Địa vị của một Đạo gia Chân Quân có thể sánh ngang với bậc tông sư trong Đạo giáo, tương đương với hàng nhất phẩm đại viên trong triều đình thế tục, thống soái tối cao của Binh gia, hay Đại học sĩ của Nho gia.
Thái Kim Giản làm như vô tình hỏi:
- Tống Tập Tân kia thế nào?
Phù Nam Hoa cũng thuận miệng đáp:
- Thiếu niên kia ư, dã tâm bừng bừng, thiên tư thông tuệ, chỗ dựa cũng chẳng nhỏ, chỉ có điều tầm nhìn...
Thái Kim Giản cười hỏi:
- Chưa đủ rộng?
Phù Nam Hoa cười rộ lên:
- Không hẳn là không rộng, chỉ là chưa đủ bao quát mà thôi.
Khi hai người đi tới dưới miếu thờ, Phù Nam Hoa lộ vẻ đắc ý, lẩm bẩm:
- Thời đến, trời đất đều chung sức.
Thái Kim Giản ngước nhìn bốn chữ “Mạc Hướng Ngoại Cầu”, trong lòng bỗng thấy trống trải, một nỗi thất vọng mất mát dâng trào, dường như chút giác ngộ vừa có được ở ngõ Nê Bình đã trả lại sạch sành sanh cho trấn nhỏ này.
Điều này khiến nàng cảm thấy vô cùng khó chịu.
Cơ ngơi của Tống Tập Tân thuộc hàng khá giả bậc nhất ở ngõ Nê Bình, ngoài sảnh chính có treo hoành phi, hai bên còn có các gian nhà kề.
Tấm hoành phi treo giữa sảnh chính đề ba chữ "Hoài Viễn Đường", nhưng lại không có lạc khoản đề danh. Tống Tập Tân luôn cảm thấy nếu chỉ xét theo thư pháp thì đây chẳng phải là bút tích của bậc danh gia đại tài nào.
Lúc này hai chủ tớ đang ở trong chính đường, thiếu niên không ngừng lục lọi đồ đạc, còn tỳ nữ Trĩ Khuê đứng tựa bên cửa, dịu dàng hỏi: "Công tử, chuyện giao dịch không được thuận lợi sao?"
Tống Tập Tân đặt một chuỗi lục lạc xuống, ngồi lại chiếc ghế duy nhất trong phòng, hai tay gác sau gáy, hai chân vắt vẻo: "Phù Nam Hoa của thành Lão Long kia cũng chẳng phải hạng ngu xuẩn, ngay từ đầu đã không coi ta là hạng phong lưu công tử chẳng hiểu sự đời. Có điều hắn cũng chẳng thông minh đến mức nào, lại còn muốn lôi kéo tình cảm với ta, thật là nực cười. Sau khi bị ta lừa gạt một phen, hắn liền lộ ra đuôi cáo, tưởng rằng cứ cố làm ra vẻ huyền bí, dùng chút thủ đoạn lôi đình là có thể ân uy song hành, hù dọa được thiếu gia ta sao? So với một Tề tiên sinh thâm bất khả trắc, hắn vẫn còn kém xa vạn dặm."
Trĩ Khuê nhẹ nhàng đáp: "Kém xa vạn dặm? Công tử, cách ví von này của ngài có phần hơi khoa trương rồi."
Tống Tập Tân làm bộ mặt tinh nghịch, cười nói: "Vậy thì kém mười con ngõ Nê Bình!"
Cậu ném cho tỳ nữ của mình một chiếc túi nhỏ: "Nhìn xem, đây chính là loại tiền đồng mà bức mật thư kia đã nhắc tới. Lúc trước tên họ Trần nhà bên cạnh cũng may mắn có được một túi, khi đó ta đã đoán định đại tài vận bất ngờ giáng xuống đầu hắn chưa hẳn đã là chuyện tốt. Quả nhiên không sai, chẳng phải hắn đã đắc tội với đôi nam nữ kia sao? Ta thấy sau này tên họ Trần đó còn phải nếm mùi đau khổ."
"Đúng rồi Trĩ Khuê, ta nói cho ngươi biết, kẻ vừa tới nhà chúng ta tự xưng là thiếu thành chủ thành Lão Long kia, nghe khẩu khí và nhìn hành vi của hắn, ít nhất cũng không phải hạng chỉ có cái mã bên ngoài. Còn có miếng ngọc bội này nữa, gọi là 'Lão Long Bố Vũ', chắc chắn là một món bảo vật giá trị liên thành."
Tống Tập Tân vỗ nhẹ vào miếng ngọc bội xanh biếc lung linh đang đeo bên hông, trong lòng cậu thầm cảm thấy mình đã tiến gần hơn tới phong thái của vị đại nho Tề tiên sinh kia một bước dài.
Trĩ Khuê mở chiếc túi thêu tinh xảo ra, khẽ giọng hỏi: "Công tử, liệu chúng ta có thể kiếm thêm chút 'tiền đồng' này về không?"
Tống Tập Tân mỉm cười hỏi: "Ngươi thích sao?"
Trĩ Khuê dùng hai ngón tay kẹp lấy một đồng tiền vàng lắc nhẹ, vui vẻ cười nói: "Kim quang lấp lánh thế này, nhìn lâu cũng thấy thật vui mắt."
Tống Tập Tân bật cười:
- Vậy cũng được sao? Được, nếu ngươi đã thích, ta sẽ kiếm thêm vài túi về cho ngươi. Ở thế giới bên ngoài, loại tiền này được phân thành "Trấn trạch tiền" đặt trên xà nhà, "Nghênh xuân tiền" dán trên bùa đào, hay "Cung dưỡng tiền" đặt trong bụng hoặc trên tay tượng Phật. Có điều, dân gian có cách gọi của dân gian, tiên gia lại có kiến giải của tiên gia.
Nàng cười đến nheo mắt lại, đôi mắt cong cong như hai mảnh trăng khuyết, hỏi:
- Còn túi tiền kia của Trần Bình An thì sao?
Tống Tập Tân nhíu mày:
- Hắn ư?
Nhận thấy tâm tình công tử nhà mình có chút khác lạ, Trĩ Khuê cẩn thận cất đồng tiền vào, thắt chặt miệng túi, nhỏ giọng hỏi:
- Có chuyện gì sao?
Tống Tập Tân bĩu môi, hai tay ôm sau gáy vặn vặn cổ, thản nhiên đáp:
- Không có gì, chỉ là nhớ lại mấy chuyện không mấy vui vẻ. Chuyện bên phía họ Trần kia không cần vội, tránh rước họa vào thân. Tên mọt sách Triệu Diêu kia nhiều khả năng cũng có được tiền đồng, hắn mới là kẻ dễ lừa gạt, công tử ta cam đoan sẽ kiếm một túi về cho ngươi.
Thấy Trĩ Khuê tỏ vẻ khó hiểu, Tống Tập Tân cũng không giải thích thêm. Nhận ra công tử đã mất hứng trò chuyện, nàng cũng không truy hỏi đến cùng.
Trĩ Khuê rời phòng đi ra sân, trông thấy con rắn mối vốn đã chướng mắt kia đang nằm sấp dưới đất lừ đừ phơi nắng, thỉnh thoảng còn lăn một vòng, dáng vẻ vô cùng hưởng thụ.
Thiếu nữ bực dọc bước nhanh tới, một chân giẫm lên đầu nó, mũi chân nghiền mạnh xuống đất.
Con vật nhỏ đáng thương không ngừng phát ra những tiếng kêu thảm thiết.
Nàng vừa nhấc chân lên, con rắn mối lập tức lủi đi, chạy thục mạng khắp sân, đâm sầm vào vách tường liên hồi.
Con rắn mối màu vàng đất ở nhà mình này...
Con cá chép màu vàng tham ăn rơi vào giỏ cá kia...
Con cá chạch màu đen được Cố Xán nuôi trong lu nước nọ...
Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, năm loại linh vật đã xuất hiện ba.
Nhìn con rắn mối trên đầu đã nhú sừng kia, thiếu nữ nhếch môi cười lạnh, gương mặt tràn đầy vẻ khinh miệt:
- Đồ ngu xuẩn!
Trong sân nhà Cố Xán, lão tiên sinh và phu nhân vẫn ngồi đối diện nhau. Lão vươn tay ra, nhìn những đường vân lan tràn trong lòng bàn tay, tâm tình có chút không thoải mái.
Lão thu tay lại, ngẩng đầu hỏi:
- Cố thị, trong trấn nhỏ này có nhiều phụ nữ gả cho người xứ khác như ngươi không?
Phu nhân lắc đầu đáp:
- Chắc là không nhiều, dù sao quanh khu vực ngõ Nê Bình và ngõ Hạnh Hoa này cũng chỉ có mình tôi mà thôi.
Lão già do dự trong giây lát, cuối cùng vẫn tiết lộ một chút thiên cơ cho bà ta:
- Bé gái sáu tuổi và mười hai tuổi, bé trai chín tuổi và mười tám tuổi, đó là hai đại quan trọng yếu. Cửa ải trước cần tự thân vượt qua, cửa ải sau có thể mượn ngoại lực thúc đẩy. Sau đó lại có một chuyện khác có thể nắm bắt chắc chắn hơn, gia thế càng hiển hách thì ưu thế càng lớn. Ba việc này được ví như khai môn, nhập sảnh và đăng đường nhập thất. Hai bước đầu chỉ có thể trông chờ vào cơ duyên mệnh số, nhất là bước khởi đầu, thành bại đều do ý trời có ban cơm cho ăn hay không.
Đôi mắt phu nhân lấp lánh ý cười:
- Được tiên trưởng để mắt tới, Cố Xán nhà tôi hẳn là người có thể tự mình vượt qua bước đầu tiên đúng không?
Lão già nở nụ cười thâm trầm, nói:
- Phàm là hài tử sinh trưởng ở trấn nhỏ này, căn cốt tư chất vốn dĩ chẳng có gì xuất chúng, Cố Xán nhà ngươi tuy chưa đầy chín tuổi nhưng cũng không phải ngoại lệ.
Sắc mặt phu nhân trong thoáng chốc trở nên vô cùng khó coi.
Lão già dậm dậm chân xuống đất, mỉm cười trấn an:
- Cứ yên tâm, căn cốt tốt xấu tuy rằng quan trọng, nhưng cũng chẳng phải là yếu tố quyết định tất cả. Một khi đã lọt vào mắt xanh của ông trời, thì dù là một con chó hay một cọng cỏ ven đường cũng có thể dần dần tu thành đại đạo, cuối cùng nhất bộ đăng thiên.
- Lần này trấn nhỏ phá lệ cho phép nhiều ngoại nhân tiến vào như vậy, thực chất cũng là chuyện bất đắc dĩ. Một mảnh linh điền dù màu mỡ đến đâu, trải qua mấy ngàn năm khai khẩn, canh tác và thu hoạch liên tục, lại thêm trong quãng thời gian đó không ít kẻ bất chấp hậu quả để vắt kiệt lợi lộc, thì cũng sẽ đến lúc suy tàn, cuối cùng có một ngày trở nên hoàn toàn cằn cỗi.
- Phong thủy căn cơ nơi này rốt cuộc cũng đón chờ vụ mùa cuối cùng. Khi một người sắp lâm chung thường sẽ có hiện tượng hồi quang phản chiếu, lúc ấy tinh khí thần sẽ trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Cố Xán nhà ngươi chính là nhờ vào ân huệ này mà có được đại cơ duyên khó lòng tưởng tượng, thậm chí vượt xa những đứa trẻ có thiên phú phi phàm của trấn nhỏ trước kia.
Đôi môi phu nhân run rẩy, bà cố gắng kìm nén niềm kinh hỉ trong lòng, đôi mắt long lanh ngấn nước, toát ra vài phần phong vận mê hồn.
Lão già liếc nhìn bà ta một cái, cười nói:
- Tất nhiên ngươi cũng chớ nên tham lam, kẻ nắm giữ đại cơ duyên tuyệt đối không chỉ có mình con trai ngươi. Nói một câu khó nghe, khắp Đông Bảo Bình Châu rộng lớn này, kẻ đủ tư cách độc chiếm phần khí vận này e rằng vẫn còn chưa ra đời đâu.
Phu nhân hai tay ôm ngực, khẽ lẩm bẩm:
- Thế là đủ rồi, thế là đủ rồi.
Lão nhớ tới vãn bối nữ tử của núi Vân Hà kia, không khỏi cười lạnh chế nhạo:
- Bận rộn ngược xuôi, dốc hết tâm tư, rốt cuộc cũng chỉ vì chút vật ngoài thân, đúng là nhặt hạt vừng bỏ quả dưa, ngu xuẩn không ai bằng.
Lão lập tức nở nụ cười:
- Cũng phải, nhãn giới của đám lão hủ núi Vân Hà vốn dĩ hạn hẹp, nếu không cũng chẳng đến mức để lão phu chiếm được tiên cơ này. Nắm giữ một ngọn núi báu dường như vô tận, lẽ ra phải là vận thế hưng thịnh, phát triển không ngừng, vậy mà lại suy tàn tới mức phải dựa vào một đứa hậu bối để chống đỡ môn diện.
Trong nhà, đứa bé kia đấm đá túi bụi vào cửa phòng hồi lâu, sau đó leo lên ghế nhoài người ra cửa sổ, vẻ mặt khổ sở van nài:
- Mẹ, thả con ra ngoài đi, con hứa sẽ nghe lời mà!
Cố phu nhân nhìn sang lão tiên trưởng, thấy đối phương khẽ gật đầu.
Lúc này bà mới tiến tới mở cửa, dắt tay đứa bé đi ra ngoài sân, nghiêm giọng dặn dò:
- Tiểu Xán, không được quấy rầy, nghe chưa? Từ trước tới nay mẹ chưa từng đánh con, nếu con còn dám không nghe lời, mẹ sẽ thật sự cho con nếm mùi đòn roi đấy.
Đứa trẻ "ừm" một tiếng, cúi gầm mặt, dáng vẻ ủ rũ như kẻ vừa ốm dậy.
Cố Xán bưng một chiếc ghế dài nhỏ tới, thản nhiên ngồi xuống, tạo thành thế chân vạc với mẹ và ông lão. Cậu bé hai tay chống cằm hỏi:
- Mẹ, vừa rồi rốt cuộc mẹ và tiên sinh kể chuyện đã nói gì thế? Con ở trong nhà nghe chẳng rõ gì cả, hai người nói lại cho con nghe đi?
Ông lão "ồ" một tiếng, trầm ngâm giây lát, sau đó khẽ lắc cổ tay, bát sứ trắng lớn kia lại hiện ra trong lòng bàn tay. Lão cúi đầu nhìn chăm chú, ánh mắt thâm trầm khó đoán. Chỉ thấy trên mặt nước nổi lên từng cơn sóng gợn, chợt có bọt nước bắn lên, một vệt đen bơi lội cực nhanh quanh thành bát, thỉnh thoảng lại va chạm vào vách sứ. Ông lão lẩm bẩm:
- Thôi được rồi, cứ tùy ngươi vậy.
Để thu nhận đồ đệ này, lúc trước tại ngõ Nê Bình, ông lão đã phải lao tâm khổ tứ, không tiếc tiêu tốn mấy chục năm đạo hạnh tu vi mới có thể miễn cưỡng ra tay ba lần.
Một lần là khiến nữ tử kia đạp trúng phân chó.
Lần cuối cùng là thi triển bí thuật khiến nàng lầm tưởng bản thân đã đốn ngộ. Nếu ở bên ngoài trấn nhỏ, chuyện này đương nhiên là không tưởng, cho dù là một vị Đạo gia Chân Quân danh chính ngôn thuận e rằng cũng chẳng dám làm càn như vậy. Thế nhưng tại trấn nhỏ này, Thái Kim Giản chẳng khác nào người phàm, lão lại không tiếc trả giá đắt mới tìm được cơ hội nghìn năm có một này.
Trong số đó, lần thứ hai là đắc ý nhất, ngay cả lão cũng cảm thấy đó chính là nét bút của thần linh, khiến cô gái kia lầm tưởng rằng lời nhắc nhở đầy thiện ý của thiếu niên đi giày cỏ thực chất là một màn trả thù thâm độc. Khi ấy, lão đã âm thầm khiến thiếu niên nói chậm lại đôi chút, vừa vặn để cô gái kia nắm bắt được chi tiết này.
Có thể nói là đã dụng tâm khổ tứ, dùng đủ trăm phương ngàn kế.
Trên con đường tu hành, giữa đám người đồng đạo, thiện duyên hay nghiệt duyên đôi khi chỉ cách nhau trong gang tấc.
Lúc này, phu nhân họ Cố đứng trong sân lòng đầy thấp thỏm, chỉ sợ vị tiên trưởng kia nói ra điều gì bất lợi.
Lão nhếch mép cười đầy ẩn ý, khóe mắt liếc thấy một đứa trẻ đang rón rén đứng dậy, rồi đột ngột ba chân bốn cẳng lao thẳng về phía cổng viện.
Phu nhân thất thanh kinh hô.
Lão tay bưng chén sứ trắng, ung dung đứng dậy:
- Đồ nhi, vi sư trước tiên sẽ cho ngươi thấy trời cao đất dày, kẻo ngươi lại không biết nặng nhẹ, làm hỏng thiên thu đại nghiệp của thầy trò ta!
Phu nhân chỉ thấy trước mắt tối sầm, ngất lịm đi trên mặt đất.
Lão đột nhiên phất mạnh tay áo.
Trong chớp mắt, đứa bé vốn đã sắp chạm tay vào then cửa bỗng lảo đảo ngã nhào. Nhưng khi nó nhận ra có điều bất thường, ngơ ngác nhìn quanh, cuối cùng ngẩng đầu nhìn vị tiên sinh kể chuyện đang đứng cạnh mình:
- Đây là đâu?
Lão chắp hai tay sau lưng, hờ hững đáp:
- Trong chén.
Đứa bé càng thêm ngơ ngác, chợt nghe lão quát khẽ một tiếng:
- Dậy!
Đứa bé theo bản năng đứng bật dậy, rồi đứng sững không dám nhúc nhích.
Cố Xán phát hiện mình tựa hồ đang đứng bên rìa một vách đá vạn trượng, phía trước là biển mây cuồn cuộn xa xăm.
Ngay sau đó, đứa bé kinh ngạc trợn tròn đôi mắt, trông thấy giữa màn sương trắng xóa có một cự vật to lớn phá tan mây mù, chậm rãi di động.
Nhưng nó thật sự quá đỗi khổng lồ, không cách nào nhìn thấy được toàn bộ chân dung.
Đứa bé sợ hãi muốn lùi lại một bước, nhưng ngay lập tức bị bàn tay của lão ấn chặt lên đỉnh đầu, nghiêm giọng quát:
- Bây giờ mà lùi, sau này trên đường tu hành ngươi sẽ khó lòng tiến bước! Đứng vững cho ta!
Cố Xán sợ đến mức nước mắt trào ra khỏi hốc mắt, nhưng đứa trẻ vốn tính tình ngang ngược, coi trời bằng vung này lại chẳng dám bật ra tiếng khóc.
Cậu bé hoàn toàn không khống chế nổi thân thể mình, đôi chân run rẩy không ngừng, bờ môi mấp máy liên hồi.
Biển mây phía xa sôi trào mãnh liệt.
Lớp mây mù trắng xóa dường như đang dần tan biến.
Sau đó, trên bầu trời hiện ra một bóng đen khổng lồ, dài dằng dặc, trông giống như... con chạch nhỏ mà cậu nuôi trong lu nước được phóng đại lên gấp vạn lần?
Chẳng rõ vì cớ gì, trong tâm trí đứa trẻ lại nảy sinh ý niệm ấy.
Giây phút đó, Cố Xán như hồn siêu phách lạc, vô thức sải bước về phía trước, vươn cánh tay gầy gò hướng thẳng lên trời cao.
Một chiếc đầu khổng lồ tựa như đỉnh núi từ trong biển mây cuồn cuộn chậm rãi lướt tới.
Đôi mắt đứa bé sáng rực, chẳng chút sợ hãi, thậm chí còn vẫy vẫy tay reo lên:
- Mau tới đây, mau tới đây! Hóa ra ngươi đã lớn thế này rồi, hèn chi ta cứ thắc mắc, tôm cá ném vào lu nước, hôm sau lại chẳng thấy đâu.
Tiệt Giang Chân Quân của hồ Thư Giản đứng phía sau Cố Xán, tâm tư vô cùng phức tạp, vừa có chút mất mát đố kỵ khôn nguôi, lại vừa nảy sinh niềm vui sướng tự nhiên.
Dẫu bản thân chắc chắn không có được phúc duyên to lớn nhường này, nhưng thu nhận được đồ đệ này cũng coi như đại vận, tuyệt đối không uổng công chuyến này!
Lão nhân tận mắt chứng kiến cái đầu kia áp sát, lẩm bẩm cảm thán:
- Quả là kỳ quan thiên hạ.
Trần Bình An đột nhiên nói với thiếu nữ áo đen muốn vào phòng một lát, rồi ngồi xổm xuống góc phòng quay lưng về phía nàng, bí mật giấu một vật vào lòng bàn tay.
Lúc ra đến cửa, cậu bảo rằng muốn đi mua một chiếc ấm sứ để sắc thuốc cho nàng, vì trong nhà đang thiếu món đồ này.
Sau khi thiếu niên đi giày cỏ vội vã rời đi, thiếu nữ liếc mắt nhìn về góc tối, nơi ấy rõ ràng vẫn đang đặt một chiếc ấm cũ kỹ.
Vả lại, thính lực của thiếu nữ vốn cực kỳ nhạy bén.
Vật trong lòng bàn tay cậu, chính là một mảnh sứ vỡ, vô cùng sắc bén.